BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT FDI 12 THÁNG NĂM 2025
BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 12 THÁNG NĂM 2025
Tính trong 12 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 27,6 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 31/12/2025, cả nước có 45.416 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 350,22 tỷ USD, bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 12 tháng năm 2025
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 12 tháng năm 2025, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 361,9 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ, chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 360,5 tỷ USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ, chiếm 75,9% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 312,3 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ và chiếm 69% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 12 tháng năm 2025, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 49,6 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 48,2 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 30,6 tỷ USD.
Một số dự án nổi bật trong tháng 12: (i) dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Đoan Hùng của Amata Việt Nam Public Company Limited (Thái Lan) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 185,2 triệu USD tại tỉnh Phú Thọ (ii) dự án Công nghệ kỹ thuật cao HI-P Việt Nam của HI-P International PTE. LTD (Singapore) điều chỉnh tăng vốn đầu tư 38 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư đăng ký lên 88 triệu USD tại Bắc Ninh; (iii) dự án Công ty TNHH HS Hyosung Việt Nam của HS Hyosung Advanced Materials Corporation (Hàn Quốc) theo hình thức góp vốn mua cổ phần với tổng vốn góp đạt trên 180,8 triệu USD tại Đồng Nai.
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 21 tỷ USD, chiếm trên 54,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 7,1 tỷ USD, chiếm 18,51% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là các ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt trên 3 tỷ USD và trên 1,9 tỷ USD.
Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 34,8%), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 60,04%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 39,39%).
Cơ cấu vốn ĐTNN 12 tháng năm 2025 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:
Đã có 113 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 12 tháng năm 2025. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 9,39 tỷ USD, chiếm 24,45% tổng vốn đầu tư. Trung Quốc đứng thứ hai với gần 5,7 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư, tăng 20,4% so cùng kỳ. Tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 5,3 tỷ USD; 3,73 tỷ USD và 3,12 tỷ USD.
Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 31,45%) và số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 19,2%). Hàn Quốc đứng đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 23,4%).
ĐTNN 12 tháng năm 2025 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 12 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo đối tác
|
STT
|
Đối tác
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
Singapore
|
9.395,2
|
↓8,0%
|
↑0
|
|
2
|
Trung Quốc
|
5.695,8
|
↑20,4%
|
↑1
|
|
3
|
Hàn Quốc
|
5.292,2
|
↓25,0%
|
↓1
|
|
4
|
Nhật Bản
|
3.731,8
|
↑6,6%
|
↑1
|
|
5
|
Hồng Kông
|
3.129,6
|
↓28,0%
|
↓1
|
|
6
|
Malaysia
|
2.062,9
|
↑1014,0%
|
↑10
|
|
7
|
Đài Loan
|
1.723,2
|
↓17,3%
|
↓1
|
|
8
|
Thái Lan
|
1.153,6
|
↑412,2%
|
↑7
|
|
9
|
Thụy Điển
|
1.021,1
|
↑90587,0%
|
↑49
|
|
10
|
BritishVirginIslands
|
912,0
|
↑55,6%
|
↑0
|
|
11
|
Các đối tác khác
|
4.300,6
|
↓91976,4%
|
|
|
Tổng số
|
|
38.418,1
|
↑40,9%
|
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 31 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 7 tỷ USD, chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư cả nước, tăng 5,8% cùng kỳ. Bắc Ninh đứng thứ hai với gần 5,7 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hà Nội đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, chiếm 11,5% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Đồng Nai, Tây Ninh, Hải Phòng …
Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 49.1%), số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 28,5%) và GVMCP (chiếm 71,4%).
ĐTNN 12 tháng năm 2025 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 12 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo địa phương
|
STT
|
Địa phương
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
TP. Hồ Chí Minh
|
7.089,7
|
↑5,8%
|
↑0
|
|
2
|
Bắc Ninh
|
5.688,9
|
↓10,3%
|
↑0
|
|
3
|
Hà Nội
|
4.436,5
|
↑105,3%
|
↑4
|
|
4
|
Đồng Nai
|
4.228,8
|
↑65,1%
|
↑2
|
|
5
|
Tây Ninh
|
2.920,5
|
↑98,1%
|
↑4
|
|
6
|
Hải Phòng
|
2.332,7
|
↓59,5%
|
↓3
|
|
7
|
Hưng Yên
|
1.776,4
|
↓35,6%
|
↓2
|
|
8
|
Ninh Bình
|
1.651,0
|
↑47,0%
|
↑2
|
|
9
|
Gia Lai
|
1.509,5
|
↑1329,9%
|
↑12
|
|
10
|
Phú Thọ
|
1.169,4
|
↑124,4%
|
↑4
|
|
11
|
Các địa phương khác
|
5.614,5
|
↓349,6%
|
|
|
Tổng số
|
38.418,1
|
↑40,9%
|
|
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).
2. Nhận xét về tình hình đầu tư nước ngoài tháng 12 năm 2025 và 12 tháng năm 2025
2.1. Bối cảnh chung
Năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục chịu tác động đan xen của các yếu tố khó dự báo về kinh tế, chính trị và xã hội, trong đó nổi bật là căng thẳng Mỹ – Trung, xung đột tại Nga - Ukraine và Trung Đông, rủi ro địa chính trị ở một số khu vực, cùng với biến đổi khí hậu và thiên tai; đồng thời, cuộc đua công nghệ toàn cầu tiếp tục định hình lại cấu trúc cạnh tranh và dịch chuyển dòng vốn quốc tế. Môi trường quốc tế biến động phức tạp làm gia tăng tâm lý thận trọng của nhà đầu tư, khiến dòng vốn dịch chuyển chậm và chọn lọc hơn.
Nền kinh tế thế giới trong năm 2025 được xem là “hồi phục yếu” hoặc “tăng trưởng chững lại”[1], xuất phát từ nợ công cao, chi phí tín dụng và lãi suất duy trì mức cao, xu hướng bảo hộ và gián đoạn chuỗi cung ứng, cùng tác động của khí hậu và xung đột địa chính trị. Tình trạng này dẫn đến gia tăng rủi ro kinh tế, như thị trường lao động căng thẳng, dòng vốn FDI và thương mại quốc tế giảm/hoặc chững lại, áp lực lên chính sách vĩ mô của các quốc gia tăng và tăng trưởng vẫn dưới mức tiềm năng. Đặc biệt, đối mặt với chính sách thuế quan bất định từ Mỹ, rất nhiều nước áp dụng biện pháp “chạy hàng” (front-loading) nhằm thúc đẩy tăng trưởng tạm thời.
Về điểm đến của dòng vốn FDI, khu vực Châu Á tiếp tục là điểm đến FDI lớn nhất thế giới, đặc biệt tại Ấn Độ, ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á, bao gồm ASEAN, cũng chịu ảnh hưởng từ nhu cầu toàn cầu yếu và chi phí tài chính cao[2]. Trong bối cảnh đó, sự suy giảm, đi ngang của dòng vốn FDI toàn cầu là xu hướng chung, phản ánh tâm lý dè dặt của các nhà đầu tư trước môi trường kinh tế, địa chính trị nhiều biến động
Dòng vốn FDI đang dần chuyển từ các ngành truyền thống sang ngành có sự phát triển của công nghệ và đề cao phát triển bền vững. Xu thế này vừa tạo động lực chuyển đổi mô hình thu hút đầu tư, vừa đặt ra thách thức đáng kể đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là ASEAN, trong việc nâng chuẩn môi trường đầu tư, chất lượng hạ tầng, nhân lực và năng lực đáp ứng các tiêu chí xanh, bền vững. Tuy nhiên, giữa môi trường đầu tư có nhiều yếu tố bất ổn, bất định như hiện tại, khu vực châu Á – Thái Bình Dương nổi lên như một trong những điểm đến ít rủi ro hơn của các nhà đầu tư trên toàn thế giới, điều thuận lợi hiếm hoi trong môi trường cạnh tranh kinh tế khốc liệt như hiện tại. Cạnh tranh thu hút FDI sẽ nghiêng về “chất lượng dự án” (công nghệ, xanh, bền vững) thay vì chỉ “quy mô vốn” như trước.
2.2 Nhận xét kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong 12 tháng năm 2025:
Tại Việt Nam, đứng trước bối cảnh suy giảm về FDI trên toàn cầu, Việt Nam tiếp tục là điểm đến ổn định và bền vững của dòng vốn đầu tư quốc tế với tổng vốn đăng ký đạt đạt trên 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 27,6 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong 5 năm qua, phản ánh duy trì, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư vào triển vọng tăng trưởng trung và dài hạn của nền kinh tế. Theo đó:
- Về dòng vốn và cơ cấu đầu tư, mặc dù vốn đăng ký cấp mới giảm 12,2% so cùng kỳ, vốn điều chỉnh tăng (0,8%) và góp vốn, mua cổ phần tăng mạnh 54,8%. Điều này cho thấy nhà đầu tư mới thận trọng hơn khi khởi động dự án tại Việt Nam do những biến động trên thị trường toàn cầu, tuy nhiên các dự án hiện hữu lại mở rộng quy mô đáng kể thông qua hình thức tăng vốn, góp vốn – mua cổ phần (M&A). Điều này cho thấy niềm tin bền vững của các nhà đầu tư với môi trường đầu tư tại Việt Nam. Đồng thời, vốn thực hiện tăng 9% cho thấy khả năng hấp thụ vốn và tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt khi trong bối cảnh toàn cầu FDI suy giảm.
- Về cơ cấu ngành, lĩnh vực: Dòng vốn FDI năm 2025 tiếp tục tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng vốn đầu tư trên 21 tỷ USD, chiếm trên 54,7% tổng vốn đăng ký, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực sản xuất trong duy trì năng lực công nghiệp và tham gia chuỗi cung ứng. Kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với trên 7,1 tỷ USD, chiếm 18,51%, tăng 12,7% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu gia tăng đối với không gian sản xuất – đô thị và hạ tầng đi kèm (khu công nghiệp, nhà xưởng, kho vận, logistics…). Cơ cấu này cho thấy xu hướng phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng quy hoạch, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu mở rộng của nhà đầu tư.
- Về đối tác đầu tư: Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 9,39 tỷ USD, chiếm 24,45% tổng vốn đầu tư. Trung Quốc đứng thứ hai với gần 5,7 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư, tăng 20,4% so cùng kỳ. Tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 5,3 tỷ USD; 3,73 tỷ USD và 3,12 tỷ USD.
- Về địa bàn đầu tư, ngoài các địa phương quen thuộc như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai,… là những địa điểm thu hút nhiều vốn đầu tư, đã xuất hiện thêm các dự án quy mô lớn tại một số địa phương như Tây Ninh, Hưng Yên,… cho thấy quá trình sáp nhật địa phương đã bước đầu phát huy hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh cũng như thúc đẩy việc thực thi chính sách phân bổ đầu tư đồng đều.
- Về hoạt động thương mại, khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong xuất khẩu của nền kinh tế khi xuất siêu hơn 49,6 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 48,2 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 30,6 tỷ USD.
Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu phân mảnh,đối mặt với nhiều yếu tố bất định, với lợi thế ổn định chính trị, vị trí chiến lược, quy mô thị trường và cam kết hội nhập sâu rộng, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tăng cường thu hút FDI. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài năm 2025 cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định và bền vững, có bước chuyển hướng trong thu hút FDI, là nền tảng để FDI tiếp tục tăng tốc, chọn lọc, chất lượng và bền vững hơn trong năm 2026 .
3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 12 năm 2025
Tính lũy kế đến ngày 31/12/2025, cả nước có 45.416 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 350,22 tỷ USD, bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 325,8 tỷ USD (chiếm 61,5% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 79,5 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 42,6 tỷ USD (chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư).
Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 94,6 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 89,8 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 35 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 141,9 tỷ USD (chiếm 26,8% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 48,3 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,8 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư).
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 12 tháng năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 173 dự án mới và thực hiện 32 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt gần 1, 35 tỷ USD.
1. Tình hình ĐTRNN 12 tháng năm 2025
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 506,9 triệu USD (chiếm 37,7% tổng vốn) và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ hai với trên 300,7 triệu USD (chiếm 22,3% tổng vốn). Ngành bán buôn bán lẻ đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 130,8 triệu USD (chiếm 9,7% tổng vốn).
Theo đối tác: Có 36 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 12 tháng năm 2025. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt 757,9 triệu USD (chiếm 53,6% tổng vốn); Philippines với số vốn trên 92 triệu USD (chiếm 6,8% tổng vốn); Đức với số vốn 78,1 triệu USD (chiếm 5,8% tổng vốn).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 12 năm 2025
Lũy kế đến hết tháng 12 năm 2025, Việt Nam đã có 1.991 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,7 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 12 năm 2025 Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,2 tỷ USD, chiếm 26,2% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,4% tổng vốn); Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,7% tổng vốn),…
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục IV và V kèm theo báo cáo).
[1] Báo cáo“Tình hình và Triển vọng Kinh tế Thế giới” của UNDSEA và IMF
File đính kèm: Baocaonhanh.thang12.2025.docx