BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 01 THÁNG NĂM 2026
Tính trong 01 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 2,5 tỷ USD, giảm 40,6% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt gần 1,7 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 31/1/2026, cả nước có 45.716 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 532,1 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 351,9 tỷ USD, bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 01 tháng năm 2026
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 01 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 1,68 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 33,3 tỷ USD, tăng 40,7% so với cùng kỳ, chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 33,3 tỷ USD, tăng 41,4% so với cùng kỳ, chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 31,5 tỷ USD, tăng 63,9% so với cùng kỳ và chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 01 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 1,8 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 1,8 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 2 tỷ USD.
1.2. Tình hình đăng ký
1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong tháng 01 năm 2026
Trong tháng 1 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 2,5 tỷ USD, giảm 40,6% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
Đăng ký mới: Có 349 dự án đầu tư mới (tăng 23,8% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 1,48 tỷ USD (tăng 15,7% so với cùng kỳ).
Điều chỉnh vốn: Có 91 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 33,6% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 888,4 triệu USD (giảm 67,4% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 265 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 1,9% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 198,3 triệu USD (giảm 38,6% so cùng kỳ).
Một số dự án nổi bật trong tháng 1: (i) Dự án Nhà máy sản xuất thép không gỉ của Singvin Asset Management Pte. Ltd.; Land River Holdings Pte. Ltd (Singapore) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 380,1 triệu USD tại tỉnh Hà Tĩnh (ii) Dự án Nhà máy Seojin Việt Nam (Hàn Quốc) điều chỉnh tăng vốn đầu tư 453,8 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư đăng ký lên 760 triệu USD tại Bắc Ninh.
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 17 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 1,9 tỷ USD, chiếm trên 76,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 249 triệu USD, chiếm 9,69% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các Thông tin và truyền thông; Bán buôn và bán lẻ; Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt trên 134,2 triệu USD, 124,1 triệu USD và 56,6 triệu
Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 41,8%), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 53,85%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 36,23%).
Cơ cấu vốn ĐTNN 01 tháng năm 2026 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:
Đã có 53 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 01 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD, chiếm 41,54% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 551 triệu USD, chiếm 21,3% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 385 triệu USD; 208,1 triệu USD và 117,8 triệu USD.
Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 31,52%), Hàn Quốc đứng đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 23,1%). Trung Quốc đứng đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 27,2%).
ĐTNN 01 tháng năm 2026 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 01 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo đối tác
|
STT
|
Đối tác
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
Singapore
|
1.070,0
|
↓14,1%
|
↑1
|
|
2
|
Hàn Quốc
|
551,0
|
↓56,1%
|
↓1
|
|
3
|
Trung Quốc
|
385,0
|
↓21,4%
|
↑1
|
|
4
|
Nhật Bản
|
208,2
|
↓65,3%
|
↓1
|
|
5
|
Hồng Kông
|
117,9
|
↓26,8%
|
↑0
|
|
6
|
Hoa Kỳ
|
91,9
|
↓275,8%
|
↑49
|
|
7
|
Hà Lan
|
52,1
|
↑1023,3%
|
↑12
|
|
8
|
Đài Loan
|
48,6
|
↓65,0%
|
↓2
|
|
9
|
CHLB Đức
|
19,7
|
↑814,3%
|
↑17
|
|
10
|
Samoa
|
6,9
|
↓91,5%
|
↓2
|
|
11
|
Các đối tác khác
|
24,5
|
↓1262,3%
|
|
|
Tổng số
|
2.575,8
|
↓40,6%
|
|
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 24 tỉnh, thành phố trên cả nước. Bắc Ninh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 656 triệu USD, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư cả nước. Hà Tĩnh đứng thứ hai với 380,13 triệu USD, chiếm 14,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. TP. Hồ Chí Minh đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 325,3 triệu USD, chiếm 12,6% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Thái Nguyên, Đồng Nai, Hưng Yên …
Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 52,1%) và GVMCP (chiếm 67,5%), Bắc Ninh đứng đầu với số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 36,2%)
ĐTNN 01 tháng năm 2026 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 01 tháng năm 2026 tại Việt Nam theo địa phương
|
STT
|
Địa phương
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
Bắc Ninh
|
655,9
|
↓54,5%
|
↑0
|
|
2
|
Hà Tĩnh
|
380,1
|
|
|
|
3
|
TP. Hồ Chí Minh
|
325,4
|
↓16,0%
|
↑1
|
|
4
|
Thái Nguyên
|
241,3
|
↑259,7%
|
↑3
|
|
5
|
Đồng Nai
|
186,1
|
↓81,2%
|
↓3
|
|
6
|
Hưng Yên
|
172,1
|
↑2,6%
|
↑2
|
|
7
|
Thừa Thiên Huế
|
123,0
|
↑1424,2%
|
↑5
|
|
8
|
Tây Ninh
|
122,5
|
↓45,2%
|
↓2
|
|
9
|
Hải Phòng
|
95,6
|
↓44,6%
|
↓4
|
|
10
|
Hà Nội
|
92,9
|
↓87,3%
|
↓7
|
|
11
|
Các địa phương khác
|
181,0
|
↑23,5%
|
|
|
Tổng số
|
2.575,8
|
↓40,6%
|
|
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).
2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 01 tháng đầu năm 2026
2.1. Xu hướng ĐTNN năm 2026
- Bước sang năm 2026, triển vọng FDI toàn cầu được dự báo có phục hồi nhẹ nhưng đầy bất định. Theo UNCTAD, dòng vốn FDI có thể tăng trưởng khiêm tốn trong năm 2026 nếu điều kiện tài chính toàn cầu được nới lỏng và hoạt động mua bán doanh nghiệp xuyên biên giới khởi sắc. Tuy nhiên, đầu tư mới, mở rộng sản xuất nhiều khả năng vẫn trì trệ do sức ép từ căng thẳng địa chính trị, bất định chính sách và xu hướng phân mảnh kinh tế toàn cầu. Nếu không có những thay đổi để giảm bất ổn và tăng cường hợp tác quốc tế, dòng vốn đầu tư có nguy cơ tiếp tục tập trung vào một số ít khu vực và lĩnh vực (đặc biệt là công nghệ cao) thay vì tăng trường dàn trải.
- UNCTAD dự báo năm 2026, các nền kinh tế phát triển có thể tiếp tục hưởng lợi từ làn sóng đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao nhờ chính sách hỗ trợ mạnh mẽ (như Đạo luật CHIPS ở Mỹ hay chương trình hỗ trợ chuyển đổi số ở châu Âu).
- Châu Á và châu Phi được kỳ vọng sẽ giành thị phần FDI lớn hơn trong lĩnh vực sản xuất và có thể đón nhiều dự án sản xuất mới khi doanh nghiệp tìm kiếm địa bàn đầu tư chi phí cạnh tranh và ít rủi ro hơn. Những điểm sáng có thể bao gồm Ấn Độ (với lợi thế thị trường lớn và nguồn nhân lực dồi dào), Đông Nam Á (với mạng lưới cung ứng sẵn có và chính sách mở cửa), cũng như một số quốc gia châu Phi đang cải thiện môi trường kinh doanh.
- Dòng vốn FDI năm 2026 nhiều khả năng sẽ tiếp tục ưu tiên các quốc gia có môi trường chính sách thuận lợi và ổn định vĩ mô. Những thị trường mới nổi lớn nhưng ổn định như Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ, Mexico… tiếp tục sẽ chiếm ưu thế với chiến lược trong chuỗi cung ứng và cam kết mạnh mẽ với hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, một số nước vùng Vịnh Trung Đông cũng nổi lên thu hút FDI nhờ chương trình đa dạng hóa nền kinh tế phát triển hạ tầng và cải thiện khung chính sách thu hút nhà đầu tư.
2.2 Nhận xét kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong 01 tháng năm 2026
- Tổng vốn đăng ký đạt khoảng 2,58 tỷ USD, giảm hơn 40% so với cùng kỳ. Nếu so với bình quân giai đoạn 2021-2025 (khoảng 2,61 tỷ USD), đây là mức thấp, đặc biệt khi giai đoạn 2021–2024 thường ghi nhận các đợt tăng mạnh vốn đăng ký nhờ dự án quy mô lớn và điều chỉnh vốn.
Sự suy giảm này không đến từ đăng ký mới mà chủ yếu do:
(1) Vốn điều chỉnh giảm gần 67%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân. Cụ thể, trong giai đoạn 2021–2025, vốn điều chỉnh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đăng ký, phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp FDI hiện hữu. Việc sụt giảm mạnh cho thấy: (i) Doanh nghiệp tạm hoãn quyết định mở rộng quy mô; (ii) Nhà đầu tư chờ tín hiệu rõ hơn về thuế đối ứng, chi phí vốn và triển vọng thị trường xuất khẩu; và (iii) Ưu tiên giữ trạng thái an toàn thay vì tăng cam kết dài hạn.
(2) Góp vốn, mua cổ phần giảm: giảm gần 39%, thấp hơn bình quân giai đoạn 2021-2025. Điều này phản ánh: (i) Thị trường M&A chậm lại; (ii) Nhà đầu tư nước ngoài thận trọng hơn với định giá doanh nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh chi phí tài chính còn cao.
- Về vốn đăng ký mới: cao hơn bình quân về số lượng và quy mô
Vốn đăng ký mới tăng hơn 15%, số dự án cấp mới tăng gần 24%, số lượng dự án và quy mô vốn cao hơn mức trung bình giai đoạn 2021-2025 (khoảng 1,2 tỷ USD).
Xu hướng này cho thấy: (i) Nhà đầu tư giữ vững sự quan tâm tới thị trường Việt Nam; (ii) Cách tiếp cận có xu hướng chuyển sang chia nhỏ dự án, đầu tư thăm dò; và (iii) Tập trung vào ngành công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ.
Như vậy, so với bình quân 5 năm vừa qua, ĐTNN tháng 01/2026 có đặc điểm: (i) Tốt hơn bình quân ở vốn thực hiện và hoạt động sản xuất – xuất khẩu; (ii) Thấp hơn bình quân ở vốn đăng ký, đặc biệt là điều chỉnh vốn và M&A; (iii) Xu hướng chung là thận trọng, ưu tiên vận hành hiệu quả hơn là mở rộng. Theo đánh giá, ĐTNN vào Việt Nam đầu năm 2026 chưa suy yếu, nhưng đang bước vào giai đoạn thận trọng, chờ bối cảnh chính sách và thị trường quốc tế rõ ràng hơn trước khi tăng cam kết vốn mới. Trước thực tế này, ưu tiên chính sách của chúng ta cần tập trung vào duy trì và mở rộng dòng vốn FDI hiện hữu (thông qua đẩy mạnh hỗ trợ rà soát, tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục, đất đai, thuế để sẵn sàng các điều kiện đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư khi bối cảnh quốc tế thuận lợi hơn); làm việc với các doanh nghiệp FDI lớn, doanh nghiệp đang có kế hoạch mở rộng sản xuất nhưng hiện chờ đợi - đây là dòng vốn quay lại nhanh nhất khi FDI toàn cầu có chuyển biến tích cực; tận dụng thời gian này để nâng cao chất lượng dòng vốn FDI theo hướng ưu tiên lĩnh vực công nghệ cao, R&D, năng lượng mới…
3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 1 năm 2026
Tính lũy kế đến ngày 31/1/2026, cả nước có 45.716 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 532,06 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 351,9 tỷ USD, bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 327,8 tỷ USD (chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 79,9 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 42,6 tỷ USD (chiếm 8% tổng vốn đầu tư).
Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 95,1tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 90,9 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 35 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 142,1 tỷ USD (chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 49 tỷ USD (chiếm 9,2% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,8 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư).
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 01 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 27 dự án mới và thực hiện 2 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 238,2 triệu USD.
1. Tình hình ĐTRNN 01 tháng năm 2026
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành xây dựng với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 150,8 triệu USD (chiếm 63,3% tổng vốn) và ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ hai với trên 30,7 triệu USD (chiếm 12,9% tổng vốn). Ngành vận tải kho bãi đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 27,9 triệu USD (chiếm 11,7% tổng vốn).
Theo đối tác: Có 18 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 01 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Kyrgyzstan với số vốn đạt 149,9 triệu USD (chiếm 62,9% tổng vốn); Angola với số vốn trên 30 triệu USD (chiếm 12,6% tổng vốn); Kazakhstan với số vốn trên 21 triệu USD (chiếm 8,8% tổng vốn).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 1 năm 2026
Lũy kế đến hết tháng 1 năm 2026, Việt Nam đã có 2.018 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,9 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 1 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,2 tỷ USD, chiếm 26,2% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng vốn); Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,6% tổng vốn),…
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục IV và V kèm theo báo cáo).
File đính kèm: (2)_FDI_01.2026.xlsx