BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 10 THÁNG NĂM 2025
Tính trong 10 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 31,5 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 21,3 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 31/10/2025, cả nước có 44.801 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 525,9 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 343,9 tỷ USD, bằng 65,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 10 tháng năm 2025
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 10 tháng năm 2025, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 21,3 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 296,8 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ, chiếm 75,9% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt gần 295,7 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ, chiếm 75,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 254,4 tỷ USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ và chiếm 69% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 10 tháng năm 2025, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 42,4 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 41,2 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 22,8 tỷ USD.
Một số dự án nổi bật trong tháng 10: (i) Dự án đầu tư xây dựng bến cảng sông chanh của Công ty TNHH Infra Asia Investment (Hồng Kông) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 149,5 triệu USD tại tỉnh Quảng Ninh; (ii) Dự án sản xuất bản mạch điện tử camera của Công ty TNHH Sài Gòn STEC (Nhật Bản) điều chỉnh tăng vốn đầu tư 150 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư đăng ký lên 450 triệu USD tại TP.HCM; (iii) Dự án kinh doanh nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động của Công ty TNHH Oryz Boutique (Malaysia) theo hình thức góp vốn mua cổ phần với tổng vốn góp đạt 200 triệu USD tại TP.HCM.
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 18,2 tỷ USD, chiếm trên 57,8% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,9 tỷ USD, chiếm 18,85% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là các ngành hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt trên 1,6 tỷ USD và gần 1,4 tỷ USD.
Xét về số lượng dự án, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 34,8%) và số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 58,6%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 39,82%).
Cơ cấu vốn ĐTNN 10 tháng năm 2025 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:
Đã có 109 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 10 tháng năm 2025. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 7,5 tỷ USD, chiếm 23,8% tổng vốn đầu tư, giảm 3,5% so với cùng kỳ. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 4,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư, tăng 24,5% so cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kong với số vốn lần lượt là 3,94 tỷ USD; 3,1 tỷ USD và 2,58 tỷ USD.
Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 30,35%) và số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 18,9%). Hàn Quốc đứng đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 25%).
ĐTNN 10 tháng năm 2025 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 10 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo đối tác
|
STT
|
Đối tác
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
Singapore
|
7.520,9
|
↓3,5%
|
↑0
|
|
2
|
Hàn Quốc
|
4.425,7
|
↑24,5%
|
↑1
|
|
3
|
Trung Quốc
|
3.936,0
|
↑8,9%
|
↓1
|
|
4
|
Nhật Bản
|
3.099,4
|
↑2,9%
|
↑0
|
|
5
|
Hồng Kông
|
2.586,7
|
↓10,5%
|
↑0
|
|
6
|
Malaysia
|
2.063,1
|
↑1381,6%
|
↑10
|
|
7
|
Đài Loan
|
1.600,6
|
↑8,7%
|
↓1
|
|
8
|
Thụy Điển
|
1.020,9
|
↑92353,8%
|
↑49
|
|
9
|
Thái Lan
|
954,0
|
↑574,6%
|
↑6
|
|
10
|
BritishVirginIslands
|
857,5
|
↑85,3%
|
↑0
|
|
11
|
Các đối tác khác
|
3.454,3
|
↓94410,6%
|
|
|
Tổng số
|
31.519,1
|
↑15,6%
|
|
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 31 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP.HCM dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 5,5 tỷ USD, chiếm 17,4% tổng vốn đầu tư cả nước, tăng 0,4% cùng kỳ. Bắc Ninh đứng thứ hai với trên 5,1 tỷ USD, chiếm 16,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hà Nội đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Đồng Nai, Hải Phòng, Tây Ninh…
Xét về số dự án, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 49.1%), số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 29,7%) và GVMCP (chiếm 71,4%).
ĐTNN 10 tháng năm 2025 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 10 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo địa phương
|
STT
|
Địa phương
|
Tổng vốn đăng ký (triệu USD)
|
Tăng/Giảm so với cùng kỳ
|
Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ
|
|
1
|
TP. Hồ Chí Minh
|
5.509,0
|
↑0,4%
|
↑1
|
|
2
|
Bắc Ninh
|
5.144,0
|
↓12,0%
|
↓1
|
|
3
|
Hà Nội
|
4.003,8
|
↑150,9%
|
↑2
|
|
4
|
Đồng Nai
|
3.001,4
|
↑63,8%
|
↑2
|
|
5
|
Hải Phòng
|
2.194,8
|
↓7,5%
|
↓1
|
|
6
|
Tây Ninh
|
1.731,8
|
↑44,5%
|
↑4
|
|
7
|
Hưng Yên
|
1.709,5
|
↑3,6%
|
↑0
|
|
8
|
Ninh Bình
|
1.626,7
|
↑100,3%
|
↑7
|
|
9
|
Gia Lai
|
1.402,2
|
↑2692,5%
|
↑10
|
|
10
|
Nghệ An
|
964,4
|
↑97,7%
|
↑1
|
|
11
|
Các địa phương khác
|
4.231,6
|
↓28,6%
|
|
|
Tổng số
|
31.519,1
|
↑15,6%
|
|
2. Nhận xét về tình hình đầu tư nước ngoài tháng 10 năm 2025 và 10 tháng năm 2025
2.1. Bối cảnh chung
Trong bối cảnh quốc tế tháng 10 năm 2025, môi trường đầu tư nước ngoài chịu tác động rõ nét từ chuỗi bất ổn toàn cầu. Theo IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 được dự báo đạt khoảng 3,2 %, thấp hơn mức tiềm năng và chỉ hơi nhỉnh so với 2024[1]. Áp lực lạm phát cao và chính sách tiền tệ thắt chặt tại nhiều nền kinh tế phát triển khiến chi phí vốn quốc tế duy trì ở mức cao, đòi hỏi các nhà đầu tư phải đánh giá rủi ro kỹ hơn và có xu hướng chuyển dịch dòng vốn sang các thị trường “an toàn hơn”. Đồng thời, theo UNCTAD, dòng vốn FDI toàn cầu năm 2024 đã giảm khoảng 11 %, đánh dấu năm thứ hai liên tiếp giảm[2].
Về khu vực, bức tranh kinh tế thế giới tiếp tục phân hóa rõ nét. Châu Âu vẫn chịu sức ép từ tăng trưởng trì trệ, giá năng lượng tăng cao và căng thẳng thương mại kéo dài với Nga và khu vực Trung Đông, khiến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của khối EU suy giảm đáng kể. Trong khi đó, châu Á – Thái Bình Dương duy trì được động lực phục hồi tương đối tích cực, nhờ nền tảng tiêu dùng nội địa ổn định, cùng với đà tăng trưởng mạnh của các ngành xuất khẩu điện tử, linh kiện và công nghệ thông tin – trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, yếu tố địa chính trị tiếp tục là nhân tố chi phối mạnh mẽ dòng vốn toàn cầu. Chính sách “near-shoring” và “friend-shoring” của các nước G7 nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, cùng những căng thẳng tại Biển Đông và eo biển Đài Loan, đã khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế thận trọng hơn trong việc mở rộng các dự án mới hoặc cam kết đầu tư dài hạn, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử và năng lượng.
Như vậy, mặc dù dòng vốn FDI toàn cầu đang hướng vào trạng thái điều chỉnh (“thu hẹp và trọng chất lượng hơn”), Việt Nam vẫn có cơ hội trong làn sóng tái định vị sản xuất khu vực — đặc biệt trong các lĩnh vực xung lực như linh kiện điện tử, thiết bị y tế và năng lượng tái tạo. Điều này đặt ra yêu cầu cho Việt Nam không chỉ thu hút vốn lớn mà phải hướng tới vốn chất lượng: công nghệ cao, chuỗi giá trị toàn cầu gắn kết doanh nghiệp trong nước và tăng giá trị gia tăng nội địa
2.2 Nhận xét kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong 10 tháng năm 2025:
Trong bối cảnh chung toàn cầu, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế với tổng vốn đăng ký đạt trên 31,5 tỷ USD (tăng 15,6% so cùng kỳ), vốn thực hiện đạt 21,3 tỷ USD (tăng 8,8%). Theo đó:
- Về dòng vốn và cơ cấu đầu tư, mặc dù vốn đăng ký cấp mới giảm 7,6%, vốn điều chỉnh tăng mạnh (45%) và góp vốn – mua cổ phần tăng 45,1%. Điều này cho thấy nhà đầu tư mới thận trọng hơn khi khởi động dự án tại Việt Nam do những biến động trên thị trường toàn cầu, tuy nhiên các dự án hiện hữu lại mở rộng quy mô đáng kể. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư hiện hữu với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong thời gian qua.
Đồng thời, vốn thực hiện tăng 8,8% cho thấy khả năng hấp thụ vốn và tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt khi trong bối cảnh toàn cầu FDI suy giảm.
- Về cơ cấu ngành, lĩnh vực: (i) Công nghiệp chế biến, chế tạotiếp tục dẫn đầu với 56,6% tổng vốn đăng ký, đây là xu thế ổn định nhiều năm, nhưng cũng đặt ra rủi ro phụ thuộc nếu chuỗi cung ứng điện tử – linh kiện gặp biến động; (ii) Lĩnh vực bất động sản tăng (13,7% so cùng kỳ)cho thấy nhu cầu về hạ tầng công nghiệp, đô thị và logistics ngày càng cao; đồng thời, phản ánh chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với đô thị hóa.
- Về đối tác đầu tư: Singapore tiếp tục dẫn đầu (chiếm 23,8% tổng vốn), theo sau là Hàn Quốc (14%) và Trung Quốc (12,4%). Cơ cấu này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư khu vực châu Á vào môi trường đầu tư Việt Nam đang được củng cố. Đáng chú ý, Malaysia (6,5%) và Thụy Điển (3,2%) có mức tăng đột biến – phản ánh xu hướng các nhà đầu tư Bắc Âu và ASEAN đẩy mạnh tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam.
- Về địa bàn đầu tư, ngoài các địa phương quen thuộc như: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai,… là những địa điểm thu hút nhiều vốn đầu tư, đã xuất hiện thêm các dự án quy mô lớn tại một số địa phương như Tây Ninh, Hưng Yên,… cho thấy sự hiệu quả của quá trình sáp nhật địa phương đã nâng cao sức cạnh tranh cũng như thúc đẩy việc thực thi chính sách phân bổ đầu tư đồng đều.
- Về hoạt động thương mại, khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò động lực chủ lực trong xuất khẩu của nền kinh tế xuất siêu hơn 42,3 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 41,2 tỷ USD không kể dầu thô, bù đắp phần lớn mức nhập siêu trên 22,8 tỷ USD của khu vực doanh nghiệp trong nước. Xu hướng này khẳng định vai trò FDI trong ổn định cán cân thương mại, nhưng cũng cho thấy sựphụ thuộc lớnvào khu vực FDI. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt, việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước trở thành yêu cầu cấp thiết, nâng cao giá trị gia tăng quốc gia, và hướng tới một mô hình tăng trưởng cân bằng, tự chủ và bền vững hơn.
Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu phân mảnh,Việt Nam có lợi thế chiến lượcnhờ vị trí, ổn định chính trị và cam kết hội nhập sâu rộng. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài 10 tháng đầu năm 2025 cho thấy xu hướng tích cực và bền vững, là nền tảng để FDI tiếp tục tăng tốc trong quý IV và năm 2026.
3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 10 năm 2025
Tính lũy kế đến hết tháng 10 năm 2025, cả nước có 44.801 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 525,8 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 343,9 tỷ USD, bằng 65,4% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 323,1 tỷ USD (chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 78,6 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 42,6 tỷ USD (chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư).
Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 94,3 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 88,9 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với 141,3 tỷ USD (chiếm 26,9% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với 47,9 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,5 tỷ USD (chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư).
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 10 tháng năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 148 dự án mới và thực hiện 28 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 1,1 tỷ USD.
1. Tình hình ĐTRNN 10 tháng năm 2025
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành Sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 342,4 triệu USD (chiếm 31,1% tổng vốn) và ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ hai với trên 277,5 triệu USD (chiếm 25,2% tổng vốn). Ngành Bán buôn bán lẻ đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 129,6 triệu USD (chiếm 11,8% tổng vốn).
Theo đối tác: Có 36 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 10 tháng năm 2025. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn trên 590,3 triệu USD (chiếm 53,6% tổng vốn); Philippines với số vốn trên 92 triệu USD (chiếm 8,4% tổng vốn); Đức với số vốn 78,1 triệu USD (chiếm 7,1% tổng vốn).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 10 năm 2025
Lũy kế đến hết tháng 10 năm 2025, Việt Nam đã có 1.964 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,48 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 10 năm 2025 Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (gần 6,1 tỷ USD, chiếm 25,8% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn); Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,8% tổng vốn),…
[1] International Monetary Fund (IMF) – “World Economic Outlook (October 2025)”: Dự báo tăng trưởng toàn cầu giảm chậm lại, ở mức khoảng 3,2% cho năm 2025 và 3,1% cho năm 2026.
[2] (UNCTAD) – “World Investment Report 2025
File đính kèm: Clean_Baocaonhanh.thang10.2025.docx