BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 02 THÁNG NĂM 2026
Tính trong 02 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 6 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 3,2 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 28/2/2026, cả nước có 45.933 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 533,4 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 353,45 tỷ USD, bằng khoảng 66,2% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 02 tháng năm 2026
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 02 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 60,3 tỷ USD, tăng 30,1% so với cùng kỳ, chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 60,2 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ, chiếm 77% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 56,8 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ và chiếm 72% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 02 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 3,5 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 3,3 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 6,5 tỷ USD.
1.2. Tình hình đăng ký
1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong tháng 02 năm 2026
Trong 2 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 6 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
Đăng ký mới: Có 620 dự án đầu tư mới (tăng 20,2% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 3,5 tỷ USD (tăng 61,5% so với cùng kỳ).
Điều chỉnh vốn: Có 180 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 29,7% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 1,9 tỷ USD (giảm 52,3% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 492 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 11% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 499,4 triệu USD (giảm 5,7% so cùng kỳ).
Một số dự án nổi bật trong tháng 2: (i) Dự án Samsung Electro-mechanics Việt Nam số 2 của Công ty TNHH Samsung (Hàn Quốc) về sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1,2 tỷ USD tại tỉnh Thái Nguyên (ii) Dự án sản xuất vải Future textile (Singapore) điều chỉnh tăng vốn đầu tư 350 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư đăng ký lên 477 triệu USD tại Tây Ninh.
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 4,4 tỷ USD, chiếm trên 73% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành bán buôn bán lẻ đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 496,4 triệu USD, chiếm 8,23% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành hoạt động kinh doanh bất động sản (354,3 triệu USD), cấp nước và xử lý chất thải (220,3 triệu USD), thông tin và truyền thông (211,8 triệu USD)..
Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 42,2%), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 58,3%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 40,2%).
Theo đối tác đầu tư:
Đã có 60 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 02 tháng năm 2026. Trong đó, Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ USD, chiếm 32,7% tổng vốn đầu tư. Singapore đứng thứ hai với 1,9 tỷ USD, chiếm 31,5% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan với số vốn lần lượt là 807,4 triệu USD; 256,4 triệu USD và 233,8 triệu USD.
Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 30,9%), Hàn Quốc đứng đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 19,4%). Trung Quốc đứng đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 28,5%).
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 28 tỉnh, thành phố trên cả nước. Thái Nguyên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên1,6 tỷ USD, chiếm 27,4% tổng vốn đầu tư cả nước. TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với trên 900 triệu USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu tư đăng ký. Bắc Ninh đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 818,4 triệu USD, chiếm 13,5% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Hà Nội, Tây Ninh, Hà Tĩnh…
Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 52,9%) và GVMCP (chiếm 70,7%), Bắc Ninh đứng đầu với số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 30,5%).
2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 02 tháng đầu năm 2026
2.1. Nhận định chung
Trong 02 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt nhiều yếu tố bất định. Lạm phát tại một số nền kinh tế lớn vẫn duy trì ở mức cao khiến mặt bằng lãi suất quốc tế chưa có nhiều dư địa giảm nhanh. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và một số khu vực khác tiếp tục gây áp lực lên giá năng lượng và chi phí logistics toàn cầu. Bên cạnh đó, chính sách thương mại và thuế quan của một số nền kinh tế lớn còn nhiều biến động, khiến môi trường đầu tư và thương mại quốc tế thiếu ổn định.
Trong bối cảnh đó, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Trong bối cảnh đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 02 tháng đầu năm 2026 đạt trên 6 tỷ USD, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài riêng trong tháng 2 tăng 34% so với tháng 1. Theo đó, có một số tín hiệu chú ý như sau:
Thứ nhất, vốn thực hiện tiếp tục duy trì đà tăng tích cực. Vốn giải ngân ước đạt trên 3,2 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng thận trọng hơn. Kết quả này cho thấy các dự án đầu tư hiện hữu tiếp tục được triển khai đúng tiến độ và mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh, đồng thời phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam. Việc duy trì mức tăng trưởng giải ngân cũng góp phần củng cố vai trò của khu vực FDI trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
Thứ hai, vốn đăng ký mới tăng mạnh trong khi vốn điều chỉnh và hoạt động góp vốn, mua cổ phần có xu hướng giảm. Vốn đăng ký mới tăng 61,5% so với cùng kỳ, số lượng dự án cấp mới tăng 20,2%. Điều này cho thấy Việt Nam tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế trong chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực. Tuy nhiên, quy mô các dự án mới nhìn chung ở mức vừa và nhỏ, phản ánh xu hướng đầu tư thăm dò, từng bước mở rộng thay vì cam kết quy mô lớn ngay từ giai đoạn đầu.
Ngược lại, vốn điều chỉnh giảm 52,3% và hoạt động góp vốn, mua cổ phần giảm 5,7% so với cùng kỳ. Xu hướng này cho thấy các doanh nghiệp FDI hiện hữu đang thận trọng hơn trong việc mở rộng quy mô đầu tư trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động. Bên cạnh đó, mức giảm của vốn điều chỉnh cũng chịu tác động bởi nền so sánh cao của cùng kỳ năm trước khi ghi nhận một số dự án tăng vốn quy mô lớn.
Thứ ba, xuất hiện điểm sáng trong thu hút các dự án công nghệ cao quy mô lớn. Trong tháng 02/2026, dự án Samsung Electro-Mechanics Việt Nam tại tỉnh Thái Nguyên đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với mục tiêu sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp FCBGA phục vụ robot, xe tự hành và các thiết bị điện tử công nghệ cao. Việc triển khai dự án này là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc của Việt Nam, ưu tiên các dự án công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao và có khả năng liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, cơ cấu đối tác đầu tư tiếp tục phản ánh vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực Đông Á. Các nhà đầu tư từ Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, sự gia tăng số dự án từ Trung Quốc cùng với việc Hàn Quốc và Singapore duy trì vị trí dẫn đầu về tổng vốn cho thấy Việt Nam đang giữ vai trò ngày càng rõ nét trong mạng lưới sản xuất khu vực, đặc biệt trong các ngành điện tử, thiết bị công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo.
2.2. Xét theo diễn biến từng tháng, dòng vốn đầu tư nước ngoài có sự thay đổi đáng chú ý giữa tháng 1 và tháng 2
Trong tháng 1/2026, tổng vốn đăng ký đạt khoảng 2,57 tỷ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước do vốn điều chỉnh và hoạt động góp vốn, mua cổ phần giảm đáng kể. Tuy nhiên, vốn thực hiện vẫn duy trì mức tăng tích cực, phản ánh các dự án FDI hiện hữu tiếp tục được triển khai ổn định.
Bước sang tháng 2/2026, hoạt động thu hút đầu tư có dấu hiệu cải thiện khi xuất hiện một số dự án quy mô lớn và số lượng dự án cấp mới gia tăng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao. Theo đó, tổng vốn đăng ký riêng trong tháng 2/2026 tăng 34% so với tháng 1/2026.
Nhìn chung, thu hút ĐTNN vào Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 đang bước vào giai đoạn điều chỉnh mang tính thận trọng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động. Tuy nhiên, việc vốn thực hiện tiếp tục tăng và số lượng dự án mới gia tăng cho thấy niềm tin dài hạn của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam vẫn được duy trì. Trong thời gian tới, chính sách thu hút ĐTNN cần tiếp tục tập trung tháo gỡ vướng mắc cho các dự án đang hoạt động, thúc đẩy mở rộng đầu tư của các tập đoàn lớn, đồng thời nâng cao chất lượng dòng vốn theo hướng ưu tiên công nghệ cao, trung tâm R&D, năng lượng mới và tăng cường liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước.
3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 2 năm 2026
Tính lũy kế đến ngày 28/2/2026, cả nước có 45.933 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 533,4 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 353,45 tỷ USD, bằng khoảng 66,2% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 328,7 tỷ USD (chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 80 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 42,6 tỷ USD (chiếm 8% tổng vốn đầu tư).
Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 95,2 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 91,6 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 35 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 142,3 tỷ USD (chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 49,1 tỷ USD (chiếm 9,2% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,9 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư).
(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 02 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 36 dự án mới và thực hiện 03 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 540,1 triệu USD.
1. Tình hình ĐTRNN 02 tháng năm 2026
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 163,7 triệu USD (chiếm 30,3% tổng vốn) và ngành Xây dựng đứng thứ hai với trên 150,8 triệu USD (chiếm 27,9% tổng vốn). Ngành vận tải kho bãi đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 149,1 triệu USD (chiếm 27,6% tổng vốn).
Theo đối tác: Có 26 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 02 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 176,6 triệu USD (chiếm 32,7% tổng vốn); Kyrgyzstan với số vốn trên 149,9 triệu USD (chiếm 27,8% tổng vốn); Angola với số vốn trên 30 triệu USD (chiếm 5,6% tổng vốn).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 02 năm 2026
Lũy kế đến hết tháng 02 năm 2026, Việt Nam đã có 2027 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 24,4 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 29% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 02 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 87 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,5 tỷ USD, chiếm 26,9% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 7,5% tổng vốn),…
File đính kèm: Clean.Baocaonhanh.thang2.2026.docxFDI_02.2026_(2).xlsx