Ngày 01/12/2025-09:35:00 AM
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT FDI 11 THÁNG NĂM 2025

BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 11 THÁNG NĂM 2025

Tính trong 11 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt 33,7 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2024. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 23,6 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 30/11/2025, cả nước có 45.107 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 528,3 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 346,2 tỷ USD, bằng 65,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:

I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1. Tình hình thu hút ĐTNN 11 tháng năm 2025

1.1. Tình hình hoạt động

Vốn thực hiện:

Trong 11 tháng năm 2025, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 23,6 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 327,7 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ, chiếm 76,2% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt gần 326,4 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ, chiếm 75,9% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 281,2 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ và chiếm 68,7% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 11 tháng năm 2025, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 46,5 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 45,3 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu gần 26 tỷ USD.

1.2. Tình hình đăng ký đầu tư

1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 11 tháng năm 2025

Trong 11 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt 33,7 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 3.695 dự án đầu tư mới (tăng 21,7 % so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 15,9 tỷ USD (giảm 8,2% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh vốn: Có 1.318 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 2,4% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 11,6 tỷ USD (tăng 17% so với cùng kỳ).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 3.225 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 6,5% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 6,1 tỷ USD (tăng 50,7% so cùng kỳ).

ĐTNN 11 tháng năm 2025 theo tháng

Tính riêng trong tháng 11 năm 2025, số lượt đăng ký cấp mới, số lượt tăng vốn và số lượt góp vốn mua cổ phần đều giảm nhẹ, tuy nhiên tổng vốn đăng ký mới và góp vốn mua cổ phần vẫn tăng lần lượt là 12% và 55% so với tháng 10 năm 2025.

Theo ngành

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 18,5 tỷ USD, chiếm 55% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đạt gần 6,5 tỷ USD, chiếm 19,3% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 24,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là các ngành bán buôn, bán lẻ và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ; với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt trên 1,9 tỷ USD và gần 1,7 tỷ USD.

Xét về số lượng dự án, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 34,2%) và số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 57,5%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 39,9%).

Cơ cấu vốn ĐTNN 11 tháng năm 2025 theo ngành

Theo đối tác đầu tư:

Đã có 110 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 11 tháng năm 2025. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 8,5 tỷ USD, chiếm 25,2% tổng vốn đầu tư, tăng 9% so với cùng kỳ. Trung Quốc đứng thứ hai với gần 4,3 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư, tăng 18,1% so cùng kỳ. Tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 3,6 tỷ USD; 3,5 tỷ USD và 3 tỷ USD.

Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 31,1%) và số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 19,1%). Hàn Quốc đứng đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 24%).

ĐTNN 11 tháng năm 2025 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 11 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo đối tác

Theo địa bàn đầu tư:

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 31 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP.HCM dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 6,5 tỷ USD, chiếm 19,4% tổng vốn đầu tư cả nước. Hà Nội đứng thứ hai với gần 4,3 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Bắc Ninh đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,2 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Đồng Nai, Tây Ninh, Hải Phòng…

Xét về số dự án, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 49.1%), số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 29,7%) và GVMCP (chiếm 71,6%).

ĐTNN 11 tháng năm 2025 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 11 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo địa phương

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục II kèm theo báo cáo).

Một số dự án lớn trong tháng 11 năm 2025 gồm: (i) Dự án trung tâm thương mại AEON Mall Biên Hoà với tổng vốn đầu tư là 261,1 triệu USD do công ty TNHH Aeonmall Việt Nam, Nhật Bản đầu tư tại Đồng Nai; (ii) Dự án sản xuất hoá chất Phú Mỹ 3 với tổng vốn đầu tư là 203,6 triệu USD do công ty TNHH hóa chất LEE & MAN (H.K.), Hồng Kông đầu tư tại TP Hồ Chí Minh; (iii) Dự án sản xuất ván tre OSB STABOO Thanh Hoá với tổng vốn đầu tư là 150 triệu USD do Công ty cổ phần STABOO (Thụy Sỹ) đầu tư tại Thanh Hóa.

2. Nhận xét về tình hình đầu tư nước ngoài tháng 11 năm 2025

2.1. Bối cảnh chung

Trong tháng 11/2025, môi trường đầu tư quốc tế tiếp tục chịu ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế, địa chính trị phức tạp, song đã xuất hiện một số tín hiệu ổn định hơn so với tháng trước. Theo cập nhật của IMF, triển vọng tăng trưởng toàn cầu năm 2025 giữ nguyên quanh mức 3,1–3,2%[1], tiếp tục thấp hơn mức trung bình dài hạn. Lạm phát tại nhiều nền kinh tế lớn có xu hướng giảm dần nhưng vẫn cao hơn mục tiêu, khiến các ngân hàng trung ương duy trì lập trường thận trọng[2]. Điều này gia tăng áp lực lựa chọn dự án, buộc dòng vốn FDI toàn cầu ưu tiên các thị trường có nền tảng ổn định và khả năng hấp thụ vốn tốt.

Theo UNCTAD, xu hướng “thu hẹp và tái cấu trúc” dòng vốn FDI tiếp tục thể hiện rõ trong tháng 11, đặc biệt ở các khoản đầu tư mới (greenfield), trong khi đầu tư theo hình thức mua bán, sáp nhập (M&A) phục hồi nhẹ nhờ chi phí tài chính kỳ vọng giảm trong năm 2026[3]. Tại châu Âu, bức tranh đầu tư vẫn chưa phục hồi do tăng trưởng yếu và tác động kéo dài của chi phí năng lượng gia tăng; nhiều tập đoàn EU tiếp tục thu hẹp kế hoạch mở rộng sản xuất ngoài khối. Trái lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương duy trì vai trò điểm đến của dòng vốn nhờ nhu cầu điện tử, bán dẫn và công nghệ duy trì mạnh- đặc biệt ở Việt Nam, Thái Lan và Malaysia.

Về địa chính trị, tháng 11 ghi nhận các diễn biến mới: căng thẳng tại Trung Đông tiếp tục đẩy rủi ro năng lượng lên cao; tình hình tại Biển Đông và eo biển Đài Loan chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; Mỹ và Trung Quốc gia tăng kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ cao. Các chính sách “friend-shoring” và “de-risking” của G7 tiếp tục thúc đẩy làn sóng tái định vị sản xuất sang các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, việc phân tán chuỗi cung ứng sang các nước “an toàn hơn” cũng khiến nhà đầu tư thận trọng hơn trong các dự án công nghệ cao và điện tử, ưu tiên mở rộng dự án hiện hữu thay vì cam kết mới quy mô lớn.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục là điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư nhờ môi trường vĩ mô ổn định, chính sách đầu tư nhất quán và năng lực trong các ngành sản xuất điện tử, linh kiện liên tục cải thiện. Tuy nhiên, cạnh tranh trong khu vực cũng trở nên ngày càng gay gắt, đặc biệt từ Ấn Độ, Malaysia và Indonesia, là những nước đang đẩy mạnh ưu đãi thuế và phát triển khu công nghiệp chuyên biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cho Việt Nam phải tiếp tục chuyển trọng tâm từ thu hút vốn lớn sang thu hút vốn chất lượng cao, tập trung vào công nghệ nguồn, đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi giá trị và nâng tỷ lệ nội địa hóa.

2.2 Nhận xét kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong 11 tháng năm 2025:

Trong bối cảnh chung toàn cầu, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế với tổng vốn đăng ký đạt 33,7 tỷ USD (tăng 7,4% so cùng kỳ), vốn thực hiện đạt 23,6 tỷ USD (tăng 8,9%). Theo đó:

- Về dòng vốn và cơ cấu đầu tư: Dù vốn đăng ký mới giảm 8,2%, mức tăng mạnh ở điều chỉnh vốn (tăng 17%) và góp vốn, mua cổ phần (tăng 50,7%) phản ánh rõ xu hướng nhà đầu tư ưu tiên mở rộng dự án hiện hữu thay vì khởi động dự án mới trong giai đoạn toàn cầu có nhiều yếu tố bất định. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được củng cố. Vốn thực hiện tăng gần 9% tiếp tục khẳng định tiến độ giải ngân tích cực của các nhà đầu tư và năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế.

- Về cơ cấu ngành, lĩnh vực: Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu (chiếm gần 55% tổng vốn đăng ký), giữ vai trò động lực trung tâm của dòng vốn FDI vào Việt Nam. Bất động sản đứng thứ hai (chiếm 19,3%) với mức tăng 24,2%, cho thấy nhu cầu hạ tầng công nghiệp, đô thị và logistics tiếp tục mở rộng cùng với quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng..

- Về đối tác đầu tư: Cơ cấu theo quốc gia tiếp tục ổn định với các nhà đầu tư châu Á dẫn dắt: Singapore (chiếm 25,2%), Trung Quốc (chiếm 12,7%), Hàn Quốc và Nhật Bản duy trì vị trí cao. Điều này phản ánh vai trò của Việt Nam như một mắt xích ngày càng quan trọng trong chuỗi sản xuất khu vực. Trong 11 tháng năm 2025, Thụy Điển tăng 52 bậc so với cùng kỳ năm 2024, lên vị trí thứ 8/110 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 1 tỷ USD.

- Về địa bàn đầu tư: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bắc Ninh tiếp tục dẫn đầu; đồng thời, các địa phương như Thanh Hóa, Đồng Nai tiếp tục thu hút thêm dự án quy mô lớn, cho thấy sự lan tỏa của dòng vốn và cải thiện năng lực cạnh tranh cũng như thúc đẩy việc thực thi chính sách phân bổ đầu tư đồng đều.

- Về hoạt động thương mại: Khu vực FDI xuất siêu gần 46 tỷ USD kể cả dầu thô, tiếp tục là động lực chính bù đắp mức nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước. Xu hướng này tiếp tục khẳng định vai trò then chốt của khu vực ĐTNN trong ổn định cán cân thương mại, song cũng đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết và chuyển giao để giảm phụ thuộc vào khu vực FDI trong dài hạn.

Tóm lại, nhìn chung, kết quả FDI tháng 11 năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, cho thấy sức hấp dẫn ổn định của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu phân mảnh. Dòng vốn đăng ký và thực hiện đều ở mức khả quan, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và tạo nền tảng để FDI tăng tốc trong tháng cuối năm và bước sang 2026.

3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 11 năm 2025

Tính lũy kế đến hết tháng 11 năm 2025, cả nước có 45.107 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 528,3 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 346,2 tỷ USD, bằng 65,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực

Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 325,1 tỷ USD (chiếm 61,5% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 79,2 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với 42,6 tỷ USD (chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư).

Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 94,3 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 89,5 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.

Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với 141,9tỷ USD (chiếm 26,9% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với 48,2 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với 45,7 tỷ USD (chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư).

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục III kèm theo báo cáo)

II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Trong 11 tháng năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 148 dự án mới và thực hiện 28 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 1,1 tỷ USD.

1. Tình hình ĐTRNN 11 tháng năm 2025

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành Sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 342,4 triệu USD (chiếm 31,1% tổng vốn) và ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ hai với trên 277,5 triệu USD (chiếm 25,2% tổng vốn). Ngành Bán buôn bán lẻ đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 129,6 triệu USD (chiếm 11,8% tổng vốn).

Theo đối tác: Có 36 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 11 tháng năm 2025. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn trên 590,3 triệu USD (chiếm 53,6% tổng vốn); Philippines với số vốn trên 92 triệu USD (chiếm 8,4% tổng vốn); Đức với số vốn 78,1 triệu USD (chiếm 7,1% tổng vốn).

2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 11 năm 2025

Lũy kế đến hết tháng 11 năm 2025, Việt Nam đã có 1.964 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,48 tỷ USD. Trong đó:

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).

Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 11 năm 2025 Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (gần 6,1 tỷ USD, chiếm 25,8% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn); Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,8% tổng vốn),…

(Biểu số liệu chi tiết tại Phụ lục IV và V kèm theo báo cáo).



[1] IMF World Economic Outlook Update

[2] ECB Monetary Policy Statement

[3] “World Investment Report 2025”- UNCTAD


File đính kèm:
Baocaonhanh.thang11.2025-_clean.docx
    Tổng số lượt xem: 49
  •