Ngày 01/10/2025-09:46:00 AM
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THU HÚT FDI 09 THÁNG NĂM 2025

BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 09 THÁNG NĂM 2025

Tính trong 9 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 28,5 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 18,8% tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 30/9/2025, cả nước có 44.476 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 523,3 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 341,4 tỷ USD, bằng 65,2% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:

I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1. Tình hình thu hút ĐTNN 09 tháng năm 2025

1.1. Tình hình hoạt động

Vốn thực hiện:

Trong 09 tháng năm 2025, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được khoảng 18,8 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ.

Tình hình xuất, nhập khẩu:

Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 262,8 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ, chiếm 75,4% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt gần 261,9 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ, chiếm 75,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 225,9 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ và chiếm 68,1% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 09 tháng năm 2025, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 36,8 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 35,9 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu trên 20 tỷ USD.

1.2. Tình hình đăng ký đầu tư

1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 9 tháng năm 2025

Trong 09 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 28,5 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể:

Đăng ký mới: Có 2.926 dự án đầu tư mới (tăng 17,4% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 12,3 tỷ USD (giảm 8,6% so với cùng kỳ).

Điều chỉnh vốn: Có 1.092 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (tăng 6,3% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 11,3 tỷ USD (tăng 48% so với cùng kỳ).

Góp vốn, mua cổ phần: Có 2.527 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (tăng 2,3% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 4,8 tỷ USD (tăng 35% so cùng kỳ).

ĐTNN 09 tháng năm 2025 theo tháng

Tính riêng trong tháng 9 năm 2025, số lượt đăng ký cấp mới tăng 40%; điều chỉnh vốn tăng 2% và số lượt góp vốn mua cổ phẩn giảm 5% so với tháng 8 năm 2025, tuy nhiên tổng vốn đăng ký mới đạt trên 1,3 tỷ USD tăng 36% so với tháng 8 năm 2025.

Theo ngành

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 16,8 tỷ USD, chiếm gần 58,9% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2024. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 19,98% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 30,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là các ngành hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt trên 1,5 tỷ USD và trên 1,2 tỷ USD.

Xét về số lượng dự án, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 35,9%) và số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 58,7%). Ngành bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về số giao dịch GVMCP (chiếm 39,53%).

Cơ cấu vốn ĐTNN 09 tháng đầu năm 2025 theo ngành

Tính riêng trong tháng 9 năm 2025, một số dự án nổi bật bao gồm: (i) Dự án nhà máy điện gió Vân Canh Bình Định tại tỉnh Gia Lai của Tập đoàn Nexif Ratch Energy Se Asia (Singapore) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 218,4 triệu USD; (ii) Dự án nhà máy sản xuất, gia công linh kiện điện tử của Công ty TNHH Jahwa Vina (Hàn Quốc) tại tỉnh Phú Thọ với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 triệu USD; (iii) Dự án Mega Textile – Vietnam tại tỉnh Nghệ An của Công ty TNHH Mega Textile Việt Nam (Singapore) điều chỉnh tăng vốn đầu tư 350 triệu USD, nâng tổng vốn đầu tư của dự án lên 940 triệu USD;…

Theo đối tác đầu tư:

Đã có 105 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 09 tháng năm 2025. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,9 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 4,3 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn đầu tư, tăng 48,9% so cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kong với số vốn lần lượt là 3,42 tỷ USD; 2,53 tỷ USD và 2,15 tỷ USD.

Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 30,42%). Hàn Quốc dẫn đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 19,5%) và số giao dịch GVMCP (chiếm 25%).

ĐTNN 09 tháng năm 2025 theo đối tác

Xếp hạng vốn ĐTNN 09 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo đối tác

STT

Đối tác

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

Singapore

6.918,6

↓5,9%

↑0

2

Hàn Quốc

4.306,0

↑48,9%

↑1

3

Trung Quốc

3.426,3

↑6,2%

↓1

4

Nhật Bản

2.532,1

↓2,0%

↑1

5

Hồng Kông

2.157,3

↓16,6%

↓1

6

Malaysia

1.717,8

↑1368,7%

↑10

7

Đài Loan

1.442,3

↑0,5%

↓1

8

Thụy Điển

1.020,8

↑92343,4%

↑49

9

Thái Lan

928,2

↑609,0%

↑5

10

BritishVirginIslands

855,2

↑91,5%

↑0

11

Các đối tác khác

3.238,5

↓94428,5%

Tổng số

28.543,1

↑15,2%

Theo địa bàn đầu tư:

Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 32 tỉnh, thành phố trên cả nước. TP.HCM dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,8 tỷ USD, chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư cả nước, giảm 8,9% cùng kỳ. Bắc Ninh đứng thứ hai với trên 4,7 tỷ USD, chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hà Nội đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 3,8 tỷ USD, chiếm 13,6% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Đồng Nai, Hải Phòng, Hưng Yên…

Xét về số dự án, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 49.3%), số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 29,3%) và GVMCP (chiếm 71,2%).

ĐTNN 09 tháng năm 2025 theo địa phương

Xếp hạng vốn ĐTNN 09 tháng năm 2025 tại Việt Nam theo địa phương

STT

Địa phương

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tăng/Giảm so với cùng kỳ

Tăng/giảm xếp hạng so với cùng kỳ

1

TP. Hồ Chí Minh

4.800,4

↓8,9%

↑1

2

Bắc Ninh

4.799,9

↓13,2%

↓1

3

Hà Nội

3.894,2

↑148,8%

↑3

4

Đồng Nai

2.804,0

↑73,7%

↑1

5

Hải Phòng

2.073,9

↑11,4%

↓2

6

Hưng Yên

1.609,7

↑38,0%

↑1

7

Ninh Bình

1.602,5

↑112,3%

↑3

8

Tây Ninh

1.600,4

↑58,8%

↑1

9

Gia Lai

1.316,0

↑2654,0%

↑11

10

Nghệ An

776,0

↑60,9%

↑3

11

Các địa phương khác

3.266,1

↓40,4%

Tổng số

28.543,1

↑15,2%

2. Nhận xét về tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 năm 2025 và 09 tháng năm 2025

2.1. Bối cảnh chung

Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; căng thẳng thương mại, xung đột quân sự, bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng, lạm phát, môi trường đầu tư, kinh doanh toàn cầu. Thị trường tài chính, tiền tệ thế giới biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tại báo cáo WIR của UNCTAD (2025) cho thấy FDI thế giới tiếp tục suy giảm năm thứ hai liên tiếp (giảm 11% trong năm 2024); đồng thời, tiếp tục cảnh báo triển vọng FDI năm 2025 sẽ tiếp tục gặp khó khăn do rủi ro địa chính trị, bảo hộ thương mại và phân mảnh chuỗi cung ứng.

Cụ thể, các biện pháp cấm vận, trừng phạt tài chính, kiểm soát đầu tư ra nước ngoài của chính quyền Trump 2.0 và các nước phương Tây đồng minh làm suy giảm niềm tin vào hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ. Nhiều nước sẵn sàng hi sinh một phần hiệu quả kinh tế để đổi lấy khả năng tự chủ chuỗi cung ứng, đặc biệt trong các ngành công nghiệp trọng yếu. Hệ quả là chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái định hình theo ranh giới địa chính trị, trong đó, các nước gần gũi về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, đường lối có xu hướng tập hợp để hình thành chuỗi cung ứng riêng, tương đối độc lập với các khối khác (như giữa G7, OECD với BRICS, SCO).

2.2. Một số khó khăn, thách thức có thể tác động tới thu hút FDI năm 2025 của Việt Nam như: dòng vốn và cơ cấu đầu tư, vốn đăng ký cấp mới giảm cho thấy nhà đầu tư mới thận trọng hơn khi khởi động dự án tại Việt Nam do những biến động trên thị trường toàn cầu; quy mô dự án giảm, các nhà đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án đang hoạt động thay vì đầu tư mới; ngân vốn thực hiện thấp hơn dự báo do các khó khăn về hạ tầng, chi phí đầu vào như điện, nước, nhân công, logistics…; yêu cầu ngày càng cao về môi trường, lao động, trách nhiệm xã hội khiến nhà đầu tư cân nhắc kỹ hơn trước khi quyết định đầu tư.

Bức tranh kinh tế - chính trị thế giới và trong nước có những diễn biến khó lường, buộc các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế gia tăng sự cẩn trọng, rà soát lại chiến lược sản xuất, kinh doanh, điều chỉnh chuỗi cung ứng, điều này tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến thu hút dòng vốn ĐTNN.

2.3. Nhận xét kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong 9 tháng năm 2025:

Trong bối cảnh chung toàn cầu, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế với tổng vốn đăng ký đạt trên 28,5 tỷ USD (tăng 15,2% so cùng kỳ), vốn thực hiện đạt 18,8 tỷ USD (tăng 8,5%). Theo đó:

- Về dòng vốn và cơ cấu đầu tư, mặc dù vốn đăng ký cấp mới giảm 8,6%, vốn điều chỉnh tăng mạnh (48%) và góp vốn – mua cổ phần tăng gần 35%. Điều này cho thấy nhà đầu tư mới thận trọng hơn khi khởi động dự án tại Việt Nam do những biến động trên thị trường toàn cầu, tuy nhiên các dự án hiện hữu lại mở rộng quy mô đáng kể. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư hiện hữu với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong thời gian qua.

Đồng thời, vốn thực hiện tăng 8,5% cho thấy khả năng hấp thụ vốn và tiến độ giải ngân được cải thiện, đặc biệt khi trong bối cảnh toàn cầu FDI suy giảm.

- Về cơ cấu ngành, lĩnh vực: (i) Công nghiệp chế biến, chế tạotiếp tục dẫn đầu với 58,8% tổng vốn đăng ký, đây là xu thế ổn định nhiều năm, nhưng cũng đặt ra rủi ro phụ thuộc nếu chuỗi cung ứng điện tử – linh kiện gặp biến động; (ii) Lĩnh vực bất động sản tăng mạnh (30,2% so cùng kỳ)cho thấy nhu cầu về hạ tầng công nghiệp, đô thị và logistics ngày càng cao; đồng thời, phản ánh chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với đô thị hóa.

- Về đối tác đầu tư, Singapore đứng đầu (chiếm 24,2% tổng vốn), theo sau là Hàn Quốc (15%), Trung Quốc (12%), xu hướng này cho thấy niềm tin vào môi trường đầu tư tại Việt Nam được khôi phục. Phần lớn các dự án tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, vì vậy đòi hỏi quy trình kiểm tra, giám sát chặt chẽ về công nghệ và môi trường, tránh xảy ra tình trạng thành “bãi đáp” của máy móc lạc hậu.

- Về địa bàn đầu tư, ngoài các địa phương quen thuộc như: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai,… là những địa điểm thu hút nhiều vốn đầu tư, đã xuất hiện thêm các dự án quy mô lớn tại một số địa phương như Gia Lai, Ninh Bình,… cho thấy sự hiệu quả của quá trình sáp nhật địa phương đã nâng cao sức cạnh tranh cũng như thúc đẩy việc thực thi chính sách phân bổ đầu tư đồng đều.

- Về hoạt động thương mại, khu vực ĐTNN xuất siêu hơn 36,8 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 35,8 tỷ USD không kể dầu thô, bù đắp phần lớn mức nhập siêu trên 20 tỷ USD của khu vực doanh nghiệp trong nước. Xu hướng này khẳng định vai trò FDI trong ổn định cán cân thương mại, nhưng cũng cho thấy sựphụ thuộc lớnvào khu vực FDI. Do đó, cần tăng liên kết với doanh nghiệp nội địa để cải thiện giá trị gia tăng trong nước.

Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu phân mảnh,Việt Nam có lợi thế chiến lượcnhờ vị trí, ổn định chính trị và cam kết hội nhập sâu rộng. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài 9 tháng đầu năm 2025 cho thấy xu hướng tích cực và bền vững, là nền tảng để FDI tiếp tục tăng tốc trong quý IV và năm 2026.

3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 09 năm 2025

Tính lũy kế đến hết tháng 09 năm 2025, cả nước có 44.476 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 523,26 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 341,4 tỷ USD, bằng 65,2% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 322,1 tỷ USD (chiếm 61,6% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn gần 78,4 tỷ USD (chiếm 15% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 42,2 tỷ USD (chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư).

Theo đối tác đầu tư: có 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 94,2 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với gần 88,3 tỷ USD (chiếm 17% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.

Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 34 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với 140,9 tỷ USD (chiếm 26,9% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với 47,6 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,3 tỷ USD (chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư).

II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Trong 09 tháng năm 2025, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 134 dự án mới và thực hiện 23 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 846,8 triệu USD.

1. Tình hình ĐTRNN 09 tháng năm 2025

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành sản xuất, phân phối điện với dự án lớn có vốn đầu tư hơn 341,4 triệu USD (chiếm 40,3% tổng vốn) và ngành bán buôn bán lẻ đứng thứ hai với gần 120,96 triệu USD (chiếm 14,3% tổng vốn). Ngành vận tải kho bãi đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 109,1 triệu USD (chiếm 12,9% tổng vốn).

Theo đối tác: Có 34 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 09 tháng năm 2025. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn 397,18 triệu USD (chiếm 46,9% tổng vốn); Philippines với sốn vốn 92,04 triệu USD (chiếm 10,9% tổng vốn); Indonesia với số vốn gần 64,59 triệu USD (chiếm 7,6% tổng vốn).

2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 09 năm 2025

Lũy kế đến hết tháng 09 năm 2025, Việt Nam đã có 1.955 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 23,45 tỷ USD. Trong đó:

Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (gần 7,1 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).

Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 9 năm 2025 Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,04 tỷ USD, chiếm 25,8% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn); Venezuela (gần 1,83 tỷ USD, chiếm 7,8% tổng vốn),…


File đính kèm:
Baocaonhanh.thang9.2025.docx
    Tổng số lượt xem: 31
  •