BÁO CÁO NHANH TÌNH HÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 03 THÁNG NĂM 2026
Tính trong 03 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) của nhà ĐTNN đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 5,4 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 31/3/2026, cả nước có 46.198 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 542 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 355,652 tỷ USD, bằng khoảng 65,6% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Thông tin chi tiết như sau:
I. VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Tình hình thu hút ĐTNN 03 tháng năm 2026
1.1. Tình hình hoạt động
Vốn thực hiện:
Trong 03 tháng năm 2026, ước tính các dự án đầu tư nước ngoài đã giải ngân được trên 5,4 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ.
Tình hình xuất, nhập khẩu:
Xuất khẩu: Xuất khẩu kể cả dầu thô ước đạt trên 98,4 tỷ USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 98,2 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Nhập khẩu: Nhập khẩu của khu vực ĐTNN ước đạt hơn 91,3 tỷ USD, tăng 45,3% so với cùng kỳ và chiếm 72% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
Tính chung trong 03 tháng năm 2026, khu vực ĐTNN nhập siêu hơn 7 tỷ USD kể cả dầu thô và nhập siêu 6,8 tỷ USD không kể dầu thô. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước xuất siêu trên 10,7 tỷ USD.
1.2. Tình hình đăng ký
1.2.1 Tình hình đăng ký đầu tư trong 03 tháng năm 2026
Trong 03 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể:
Đăng ký mới: Có 904 dự án đầu tư mới (tăng 6,4% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 10,2 tỷ USD (tăng 136,2% so với cùng kỳ).
Điều chỉnh vốn: Có 251 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 37,3% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 2,3 tỷ USD (giảm 55,1% so với cùng kỳ).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 703 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 1,8% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 2,6 tỷ USD (tăng 128,2% so cùng kỳ).
Một số dự án nổi bật trong tháng 3: (i) Dự án Samsung Việt Nam Semiconductor của Samsung semiconductor Asia holdings (Singapore) về đóng gói, kiểm thử vật liệu và thiết bị bán dẫn với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 4 tỷ USD tại tỉnh Thái Nguyên (ii) Dự án nhà máy nhiệt điện LNG Huỳnh Lập (Hàn Quốc) về sản xuất điện từ khí thiên nhiên hóa lỏng, lưu trữ khí thiên nhiên hóa lỏng và các mục tiêu khác theo quy hoạch năng lượng quốc gia với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 2,2 tỷ USD tại tỉnh Nghệ An.
Theo ngành
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 9,2 tỷ USD, chiếm trên 60,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 2,3 tỷ USD, chiếm 15% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành bán buôn và bán lẻ (1,97 tỷ USD), hoạt động kinh doanh bất động sản (681,8 triệu USD), hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ (339,6 triệu USD)..
Xét về số lượng dự án, ngành bán buôn, bán lẻ vươn lên dẫn đầu về số dự án mới (chiếm 43%), dự án GVMCP (chiếm 41,1%), ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu về số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 57,3%).
Theo đối tác đầu tư:
Đã có 68 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 03 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 6,3 tỷ USD, chiếm 41,6% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với 4,4 tỷ USD, chiếm 28,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 1,7 tỷ USD; 828,3 triệu USD và 371,2 triệu USD.
Xét về số dự án, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 31,8%), giao dịch GVMCP (chiếm 28,3%), Hàn Quốc đứng đầu về số lượt điều chỉnh vốn (chiếm 20,7%).
Theo địa bàn đầu tư:
Các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 29 tỉnh, thành phố trên cả nước. Thái Nguyên dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,7 tỷ USD, chiếm 37,6% tổng vốn đầu tư cả nước. TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với trên 2,9 tỷ USD, chiếm 19,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Nghệ An đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,3 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư cả nước. Tiếp theo lần lượt là Bắc Ninh, Tây Ninh, Hà Nội…
Xét về số dự án, TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 52,5%) và GVMCP (chiếm 70,4%), Bắc Ninh đứng đầu với số lượt dự án điều chỉnh vốn (chiếm 31%).
1.2.2. Tình hình đăng ký đầu tư trong tháng 03 năm 2026
Trong riêng tháng 03 năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và GVMCP của nhà ĐTNN đạt trên 9,1 tỷ USD, tăng 165% so với tháng 2 năm 2026. Cụ thể:
Đăng ký mới: Có 284 dự án đầu tư mới (tăng 5% so với tháng 2/2026), tổng vốn đăng ký mới đạt trên 6,6 tỷ USD (tăng 227% so với tháng 2/2026).
Điều chỉnh vốn: Có 71 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 20% so với cùng kỳ), tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 310 triệu USD (giảm 72% so với tháng 2/2026).
Góp vốn, mua cổ phần: Có 211 giao dịch GVMCP của nhà ĐTNN (giảm 7% so với tháng 2/2026), tổng giá trị vốn góp đạt trên 2,1 tỷ USD (tăng 618% so với tháng 2/2026).
2. Nhận xét về tình hình ĐTNN 03 tháng đầu năm 2026
2.1. Nhận định chung
Trong 03 tháng đầu năm 2026, môi trường đầu tư quốc tế tiếp tục chịu tác động của tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, chính sách thương mại còn biến động, rủi ro địa chính trị kéo dài và xu hướng phân mảnh kinh tế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất và dịch chuyển dòng vốn của các tập đoàn đa quốc gia. Trong bối cảnh đó, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 03 tháng đầu năm 2026 vẫn ghi nhận kết quả tích cực ở một số chỉ tiêu chủ yếu. Tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt trên 5,4 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Theo đó, có một số nhận định như sau:
Thứ nhất, vốn thực hiện tiếp tục duy trì đà tăng khá, cho thấy các dự án FDI hiện hữu vẫn đang được triển khai tương đối ổn định, tiến độ giải ngân được duy trì, qua đó phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư quốc tế nhìn chung còn thận trọng, việc vốn thực hiện tiếp tục tăng là tín hiệu tích cực, góp phần củng cố vai trò của khu vực FDI đối với sản xuất, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, cơ cấu các dòng vốn cho thấy xu hướng phân hóa tương đối rõ. Vốn đăng ký mới tăng mạnh, số lượng dự án cấp mới tiếp tục tăng, cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến được nhiều nhà đầu tư quan tâm trong chiến lược dịch chuyển và đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần cũng duy trì quy mô khá, phản ánh nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tìm kiếm cơ hội tham gia thị trường thông qua doanh nghiệp đang hoạt động. Trong khi đó, vốn điều chỉnh giảm cho thấy khu vực doanh nghiệp FDI hiện hữu vẫn thận trọng hơn trong quyết định mở rộng đầu tư trong ngắn hạn, nhất là trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới còn nhiều yếu tố khó lường.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận thận trọng hơn đối với mức tăng của tổng vốn đăng ký trong kỳ. Kết quả tăng mạnh 42,9% chủ yếu từ một số dự án quy mô lớn được cấp phép trong kỳ. Trong đó nổi bật là Dự án Samsung Việt Nam Semiconductor của Samsung Semiconductor Asia Holdings (Singapore) tại Thái Nguyên với tổng vốn đăng ký trên 4 tỷ USD và dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Huỳnh Lập tại Nghệ An với tổng vốn đăng ký trên 2,2 tỷ USD. Nếu loại trừ tác động của 02 dự án lớn này, mức tăng của tổng vốn đăng ký 03 tháng đầu năm 2026 sẽ thấp hơn so với cùng kỳ và bức tranh thu hút đầu tư chưa hẳn cho thấy sự cải thiện mạnh trên diện rộng. Điều này cho thấy kết quả thu hút đầu tư trong kỳ vẫn phụ thuộc khá lớn vào các dự án quy mô lớn, trong khi mặt bằng chung của nhiều dự án còn ở quy mô vừa và nhỏ, thể hiện xu hướng nhà đầu tư tiếp cận thị trường theo từng bước, thận trọng hơn so với giai đoạn trước.
Thứ ba, điểm sáng của 03 tháng đầu năm là Việt Nam tiếp tục thu hút được dự án công nghệ cao quy mô lớn, qua đó cho thấy xu hướng nâng dần chất lượng dòng vốn FDI. Việc dự án Samsung Việt Nam Semiconductor được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là tín hiệu tích cực, cho thấy Việt Nam tiếp tục có sức hút đối với các dự án trong lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn và các khâu có giá trị gia tăng lớn hơn trong chuỗi cung ứng khu vực. Đây cũng là minh chứng cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên công nghệ tiên tiến, công nghệ nền tảng, giá trị gia tăng cao và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, cơ cấu đầu tư tiếp tục cho thấy mức độ tập trung tương đối cao theo ngành, đối tác và địa bàn. Vốn đầu tư vẫn tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo; đồng thời phần lớn tổng vốn đăng ký thuộc về một số đối tác và địa phương dẫn đầu. Singapore và Hàn Quốc tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư; về địa bàn, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An là các địa phương thu hút nhiều vốn nhất trong kỳ. Điều này cho thấy các dự án lớn vẫn có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả thu hút đầu tư chung, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực hấp thụ đầu tư của các địa phương khác thông qua cải thiện hạ tầng, quỹ đất, chất lượng nguồn nhân lực và dịch vụ hỗ trợ đầu tư.
Thứ năm, bức tranh thu hút ĐTNN 03 tháng đầu năm 2026 cho thấy tín hiệu tích cực nhưng chưa thật sự đồng đều và vững chắc. Mặt tích cực là Việt Nam vẫn duy trì được sức hút đối với dòng vốn mới, nhất là trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghệ cao và năng lượng. Mặt khác, việc vốn điều chỉnh giảm và kết quả chung phụ thuộc khá nhiều vào một số dự án quy mô lớn cho thấy tâm lý nhà đầu tư vẫn còn dè dặt, chưa chuyển hẳn sang trạng thái mở rộng đầu tư mạnh mẽ trên diện rộng. Vì vậy, dù kết quả 03 tháng đầu năm là khả quan, vẫn cần tiếp tục theo dõi thêm xu hướng trong các tháng tiếp theo để đánh giá chính xác hơn về tính bền vững của đà tăng này.
Trong thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ các yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hoạt động của khu vực FDI, nhất là biến động địa chính trị, giá năng lượng, chi phí logistics, xu hướng điều chỉnh chính sách thương mại, thuế quan và kiểm soát công nghệ của các nền kinh tế lớn. Đồng thời, chính sách thu hút ĐTNN cần tiếp tục theo hướng vừa hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các dự án đang hoạt động để thúc đẩy giải ngân và mở rộng đầu tư, vừa nâng cao chất lượng dòng vốn thu hút mới, ưu tiên các dự án công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm R&D, năng lượng mới, công nghiệp hỗ trợ và các dự án có khả năng liên kết, lan tỏa tốt sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
3. Tình hình ĐTNN luỹ kế tới hết tháng 03 năm 2026
Tính lũy kế đến ngày 31/3/2026, cả nước có 46.198 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 542 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 355,652 tỷ USD, bằng khoảng 65,6% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Theo ngành: các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 334,8 tỷ USD (chiếm 61,8% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các ngành kinh doanh bất động sản với số vốn trên 80,2 tỷ USD (chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với trên 44,9 tỷ USD (chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư).
Theo đối tác đầu tư: có 154 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn 98,9 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với trên 95,8 tỷ USD (chiếm 18% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông.
Theo địa bàn: ĐTNN đã có mặt ở tất cả 35 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với trên 142,5 tỷ USD (chiếm 26,3% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bắc Ninh với trên 49,4 tỷ USD (chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư); Hải Phòng với trên 45,9 tỷ USD (chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư).
II. VỀ ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Trong 03 tháng năm 2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 48 dự án mới và thực hiện 04 lượt điều chỉnh vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt trên 619,9 triệu USD.
1. Tình hình ĐTRNN 03 tháng năm 2026
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 163,7 triệu USD (chiếm 26,4% tổng vốn) và ngành Xây dựng đứng thứ hai với trên 150,8 triệu USD (chiếm 24,3% tổng vốn). Ngành vận tải kho bãi đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 149,1 triệu USD (chiếm 24,1% tổng vốn).
Theo đối tác: Có 26 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 03 tháng năm 2026. Các nước thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam là Lào với số vốn đạt trên 176,6 triệu USD (chiếm 28,5% tổng vốn); Kyrgyzstan với số vốn trên 149,9 triệu USD (chiếm 24,2% tổng vốn); Vương quốc Anh với số vốn trên 82,7 triệu USD (chiếm 13,4% tổng vốn).
2. Tình hình ĐTRNN lũy kế đến hết tháng 03 năm 2026
Lũy kế đến hết tháng 03 năm 2026, Việt Nam đã có 2039 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư ra nước ngoài trên 24,5 tỷ USD. Trong đó:
Theo ngành: Các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 18/21 ngành, tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (trên 7 tỷ USD, chiếm 29% tổng vốn); nông, lâm nghiệp, thủy sản (hơn 3,4 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn) và thông tin truyền thông (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn).
Theo đối tác nhận đầu tư: Tính đến tháng 03 năm 2026 Việt Nam đã đầu tư ra 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,5 tỷ USD, chiếm 26,8% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,9 tỷ USD, chiếm 12% tổng vốn); Venezuela (trên 1,8 tỷ USD, chiếm 7,4% tổng vốn),…
File đính kèm: Clean_Baocaonhanh.thang3.2026.docxFDI_03.2026_(0604).xlsx